Testimonialism trong Tiếng Việt có thể được gọi là Chứng Ngôn Luận hoặc Chủ nghĩa Làm chứng, chúng có nghĩa là việc giới hạn những phát ngôn và diễn đạt của bản thân thành những lời làm chứng về những gì là tri thức của cá nhân, mắt-thấy-tai-nghe của cá nhân anh; không có những sự giả định, thiên kiến, sai sót, hiểu lầm, nhảy cóc đến kết luận, v.v…

Ví dụ, có một lần tôi có nhận một cuộc điện thoại từ một người nhờ tôi chuyển lại một thông điệp đến cho một người đồng nghiệp. Tôi nhận ra là mình không có kiến thức gì về nội dung của thông điệp nên thay vì chỉ đơn thuần chuyển lại nội dung mà không có ngữ cảnh tôi đã quyết định báo cáo lại rằng nó đã được chuyển lại cho tôi. Sau đó tôi nhận ra là cả nguồn, cũng không phải là người mà cá nhân tôi quen biết. Đầu dây bên kia đã có thể là bất cứ ai, tôi không thể biết được. Vậy nên cái email mà sau đó tôi đã gửi cho đồng nghiệp của tôi có ghi như sau “Tôi đã nhận được một thông điệp từ một ai đó xưng danh tính là thế-này -thế-này và người này muốn tôi nói với anh là thế-nọ- thế-nọ.” Hóa ra là, thông điệp đó là chính xác và nguồn đó đúng là người mà họ đã tự xưng. Nhưng nếu như anh tự giới hạn mình trong chủ nghĩa làm chứng sẽ rất dễ dàng để [có thể] phát ngôn trung thực, để [có thể] đặt các phát biểu của anh vào ngữ cảnh phù hợp và diễn đạt sự tin tưởng của anh vào nó cùng với nội dung. Trong khi đó, nếu như anh KHÔNG thực hành chủ nghĩa làm chứng thì sẽ rất dễ truyền lại những sai sót, dối trá, thiên kiến, hay nội dung mang tính tưởng tượng mà không hề có chút cảnh báo hoặc không nhận ra được nó.

Một phương pháp tự nghiệm tốt cho việc thực hành chủ nghĩa làm chứng đó là dùng E-Prime, về cơ bản là tiếng Anh nhưng đã bị trừ khử hoàn toàn động từ “to be“. Thay vì nói về mọi thứ LÀ như thế nào, hãy phát biểu trông chúng như thế nào, chúng có vẻ ra sao, hay cách mà anh nhìn nhận chúng. Đây là một lời làm chứng chuẩn xác hơn.

Những khẳng định có tính tồn tại của bản chất tối hậu của mọi vật thường là những phép ngoại suy, giả định, hoặc sai sót… Chúng là các lý thuyết, chứ không phải sự thật,

Và chúng ta có hẳn một ngành học khoa học được xây dựng xung quanh việc phải cẩn thận với cách mà chúng ta kiến tạo và phát biểu các lý thuyết, Epistemology (Tri Thức Luận hay Nhận Thức Luận).

Có một câu chuyện đùa cũ kỹ; Một nhà phi hành gia, một nhà vật lý và một nhà toán học đang ở trên tàu hỏa ở Scotland. Nhà phi hành gia nhìn ra ngoài cửa sổ, nhìn thấy một con cừu đen đứng trên một bãi cỏ, và nhận xét, “Thật kỳ lạ. Tất cả cừu ở Scotland đều có màu đen!” “Không, không, không!” nhà vật lý nói. “Chỉ có một số con cừu Scotland là có màu đen.” Nhà toán học đảo mắt vì lối suy nghĩ lộn xộn của các bạn đồng hành của mình và nói, “Ở Scotland, có ít nhất là một con cừu, và ít nhất là một bên của nó có vẻ có màu đen khi nhìn từ đây, trong một số khoảng thời gian.”

(Tôi cho rằng câu chuyện đùa này lấy nhà toán học làm giọng nói của sự thông thái là bởi các vấn đề trong thống kê với việc khái quát hóa từ một ví dụ duy nhất. Nhưng thông thường hơn, các nhà toán học là những người duy lý, quan tâm tới tính nhất quán nội tại, trong khi các nhà khoa học là những người duy nghiệm, làm việc với sự đối ứng bên ngoài với hiện thực.)

Chủ nghĩa làm chứng là quan trọng bởi vì có thể có rất nhiều khía cạnh của sự thật và mỗi chúng ta có thể nhìn nhận chúng theo cách khác nhau, hoặc có thể nhìn nhận theo các khía cạnh khác nhau của cùng một câu hỏi, từ những góc nhìn khác nhau.

Nếu như chúng ta thực hiện những sự nhảy cóc hay giả định và cho rằng cảm nhận của chúng ta LÀ hiện thực thì bất cứ ai với một cảm nhận khác đều là sai và chúng ta sẽ phải đánh nhau vì điều đó. Nhưng nếu như chúng ta chỉ đơn giản báo cáo lại lời làm chứng chính xác theo những cảm nhận của mình thì chúng ta có thể so sánh nó với lời làm chứng của những người khác mà không cần phải cho rằng là họ sai. Kể cả nếu như họ có khác ta cũng không cần phải giả định rằng một hay nhiều lời làm chứng là sai mà có thể sử dụng cả hai để giúp xây dựng một bức tranh hoặc mô hình chính xác hay hoàn chỉnh hơn của hiện thực.